Nữ Tôn giả Liên Hoa Sắc (Uppalanannà) từ huyền thoại đến hiện thực

Nghe đọc bài:

Nữ Tôn giả Uppalavannà hay Liên Hoa Sắc là một trong các vị đại đệ tử Ni của đức Phật, được Ngài tán thán là vị Ni có thần thông đệ nhất trong số các chư Ni có thần thông (1) , giống với khả năng của Tôn giả Moggallàna (Mục Kiền Liên) bên chư Tăng. 

Vào thời đức Phật, Nữ tôn giả được sanh ra trong một gia đình triệu phú có tài sản lớn ở kinh thành nước Xá vệ (Sàvatthì). Sở dĩ có tên gọi Uppalavannà có nghĩa “làn da bông sen”, được dịch là Liên Hoa Sắc vì khi được sanh ra, Nữ Tôn giả rất xinh đẹp và đặc biệt có làn da mịn màng tươi mát như tim của loài hoa sen xanh.

Cũng vì dáng vóc và nhan sắc kiều diễm nên khi lớn lên, hàng trăm vương tôn công tử đã đến gặp cha Nữ tôn giả xin cầu hôn. Không biết phải giải quyết thế nào cho hài lòng các nhà quý tộc và tránh họa oán thù, vị trưởng giả thân phụ Nữ tôn giả bèn yêu cầu con gái xuất gia theo Ni đoàn đệ tử đức Phật. 

Do túc duyên nhiều đời kiếp đã từng có lòng tịnh tín, giữ phạm hạnh, có tâm muốn xuất gia và cúng dường nhiều chư Phật nên Nữ Tôn giả đồng ý ngay theo lời yêu cầu của cha (2).

Không đầy nửa tháng sau khi được thân phụ đưa đến Ni đoàn xuất gia, hôm đó, khi hoàn tất việc dọn dẹp quét phòng chuẩn bị lễ Bố Tát, Nữ Tôn giả thắp đèn rồi chăm chú nhìn ngọn đèn, lấy ngọn lửa làm đề tài thiền quán, nhập định và chứng quả A-la-hán không lâu sau đó (3).

Sau khi chứng quả, Nữ Tôn giả đã sử dụng thần thông hóa hiện thành chiếc xe bốn ngựa đến đảnh lễ, tán thán đức Phật và trình bày lại hết những công đức, thiện nghiệp, tịnh tín, hỉ lạc và khổ đau trong nhiều kiếp sống tiền thân và hiện đời của mình. Tôn giả Ni được đức Phật hoan hỉ cho phép phô bày thần thông cho tứ chúng thấy để khích lệ người tu theo chánh pháp và cắt đứt lòng hoài nghi của kẻ ngờ vực (4). Phụng hành theo lời dạy của đức Thế Tôn, với thần thông, Tôn giả Ni đã đặt gọn gàng bốn đại dương ở trong lòng bàn tay; nhẹ nhàng bứng và đặt trái đất trong lòng bàn tay; đưa bàn tay được biến hóa rộng như vũ trụ che trên đỉnh đầu, rồi làm đổ xuống thành từng đợt các cơn mưa với giọt nước nhiều màu sắc; biến mặt đất thành cối giả, hạt cát thành thóc, núi Tu-di thành chày, rồi uyển chuyển giả nát nhuần nhuyễn như người thiếu nữ giã gạo (5). Tất cả hội chúng có mặt đều sửng sốt, kinh ngạc, hết lời tán thán . Đức Phật cũng hoan hỉ với đức hạnh và khả năng thần thông của Tôn giả Ni nên thiết lập vào vị thế tối thắng trong số các chư Ni có thần thông. 

Được hội chúng hỏi về nhân duyên có được thần thông vượt trội như thế, Nữ Tôn giả cho biết một trăm ngàn kiếp trước, tiền thân của Tôn giả Ni tên Vimalà, con gái tốt đẹp của Long Vương phát sanh lòng tịnh tín với đức Phật quá khứ Padumuttara (Liên Hoa) khi Ngài cùng Tăng đoàn về cung điện thọ thực theo lời thỉnh mời của Long Vương. Nhận biết tâm ý thuần thục của Vimalà, đấng Chánh giác Padumuttara bảo một vị Tỳ-kheo-ni của Ngài thị hiện thần thông siêu xuất. Điều đó làm Vimalà rất phấn kích, hoan hỉ và tỏ lòng ước nguyện sẽ được như vậy trong tương lai. Khả năng thần thông có được ngày nay là kết quả thành tựu lời ước nguyện xưa cùng với lòng tịnh tín, sự tu tập, công đức cúng dường đến nhiều chư Phật trong quá khứ. 

Kinh Tăng Nhất A Hàm, Phẩm Thính Pháp, phần 5 có đoạn chép Tôn giả Ni đã hóa mình thành Chuyển Luân Vương với xe bảy báu đến đón đức Phật khi Ngài từ cung trời Đao Lợi về lại thế giới Ta bà này. Kinh Tương Ưng cũng ghi lại khả năng biến hóa thần thông bằng cách chui vào bụng hay đứng giữa hàng mi ác ma của Nữ Tôn giả khi bị ác ma đe dọa (6).

Làn da màu tim sen của Tôn Ni cũng hình thành do nhân duyên nhiều kiếp trước tiền thân Tôn giả Ni từng nhiều lần cúng dường hoa sen xanh cao quý đến chư Phật, chư vị Độc giác với ước nguyện có được màu da như thế. Ngay cả trong một tiền kiếp, tiền thân Tôn giả Ni được sanh ra trong lòng một búp sen trong đầm sen ở chân núi, được một ẩn sĩ thấy búp sen lớn kỳ lạ nên hái, phát hiện ra hài nhi, vị ẩn sĩ đem về nuôi làm con và hái hoa sen trải làm sàng tọa cho bé nằm. Nhờ công đức của chính tiền thân Tôn giả Ni, sữa từ đầu ngón tay vị ẩn sĩ chảy ra nuôi bé lớn lên. Khi biết đi lại, luôn có một hoa sen xuất hiện dưới mỗi bước chân của bé (7)

Trong một số Chuyện Tiền Thân (Jataka 392, 539…), tiền thân Tôn giả Ni hầu hết là Nữ thần từng hỗ trợ Bồ tát là tiền thân đức Phật. Ký sự Trưởng Lão Ni (Theri Apadana) đã ghi lại lời tự thuật về chính cuộc đời của Tôn giả Ni trong nhiều tiền kiếp và kiếp cuối cùng đắc quả A-la-hán này. Trong đó cho thấy rất rõ ràng Tôn giả Ni luôn được tái sanh ở Thiên giới, trong gia đình hoàng tộc hoặc gia đình Bà-la-môn quyền quí. Chỉ một kiếp ở một gia đình không mấy giàu có, phải đi chăm sóc lúa và một kiếp sanh trong hoa sen. Ở kiếp cuối cùng, Tôn giả Ni đã sanh trong gia đình giàu có, được kính nể vì đức hạnh và được ngưỡng mộ vì nét đẹp kiều diễm. Tôn giả Ni đã nghe theo lời thân phụ đi xuất gia và chứng quả Thánh cao tột chỉ chưa đầy nửa tháng sau đó.

Như vậy, do đâu lại có chuyện kể về một Liên Hoa Sắc là kỹ nữ được Tôn giả Mục Kiền Liên hóa độ, từng được gán cho Nữ tôn giả Uppalavannà?(8)

 Chuyện này kể một cô gái tên Liên Hoa Sắc xinh đẹp, lập gia đình lúc 16 tuổi, có con gái đầu lòng thì người cha chồng chết. Mẹ chồng còn trẻ đã tư thông với chính người chồng của mình và hạn chế cô tiếp xúc với chồng, đối xử với cô như người hầu (9) Cô đau khổ bỏ nhà và con gái ra đi và cũng không dám quay về nhà cha mẹ ruột. Ít lâu sau, cô tái giá với một thương gia. 

Người thương gia sau đó có một hầu thiếp trẻ đẹp chính là con gái của cô. Khổ tâm vì hai mẹ con có chung một chồng nên cô lại bỏ nhà ra đi trong niềm oán hờn đàn ông, chán ngán thế thái nhân tình. Cô sử dụng sắc đẹp vốn có quyến rũ mọi đàn ông để phá hạnh phúc gia đình họ trả thù cho hoàn cảnh của mình. Chỉ khi cô gặp và trêu chọc Tôn giả Mục Kiền Liên mới được Ngài hóa độ, tỉnh tâm đi xuất gia rồi chứng quả A-la-hán. 

Đọc Chú giải Trưởng Lão Ni kệ, chúng ta sẽ hiểu được mẹ và con gái có chung chồng trong câu chuyện trên chính là mẹ và con gái của Trưởng lão Gangàtìriya đã được chính người mẹ ấy kể lại cho Nữ Tôn giả Liên Hoa Sắc nghe (10). Khi đang quán sát cõi dục thoái hóa đạo đức vì các lậu hoặc sắc dục, Nữ tôn giả nhớ lại câu chuyện của bà mẹ ấy và đã nói bài kệ được ghi lại trong Trưởng Lão Ni Kệ, câu 224 như sau: 

Hai, mẹ và con gái, 

Chúng tôi sống một chồng,

 Lời nàng đã nói lên 

Làm ta xúc động mạnh, 

Cảnh ngộ thật hy hữu,

Làm tóc lông dựng ngược.

Chính hai câu đầu của bài kệ trên đã bị hiểu lầm thành hoàn cảnh của Nữ tôn giả để có ra câu chuyện trên! Đọc kỹ lại câu ba: Lời nàng đã nói lên và câu bốn: Làm ta xúc động mạnh, chúng ta sẽ hiểu rõ câu chuyện trên đã được Nữ tôn giả nghe, thuật lại và làm Tôn ni xúc động mạnh đến nỗi tóc lông dựng ngược!   

Trong sách “Lời vàng bậc Thánh”, khi đọc đoạn cuối trong Kệ ngôn của Trưởng lão Ni Uppalavannà (số 13), Tỳ kheo Thiên Phúc cũng sớ giải các câu kệ trên là lời thuật của Tôn Ni Liên Hoa Sắc về cảm xúc của Người khi nghe câu chuyện ấy của một Tỳ kheo ni khác! (11).

Chuyện Tôn giả Ni Liên Hoa Sắc bị hiểu nhầm là kỹ nữ khi còn thiếu thời cũng có khả năng nhầm lẫn về tên! Như đã nói ở phần trên, có một tiền kiếp vào thời đức Phật quá khứ Padumuttara, tiền thân của Tôn giả Ni Liên Hoa Sắc có tên Vimalà, con của Long Vương rất tịnh tín và tu tập tinh tấn. Tuy nhiên, trong thời đức Phật Thích Ca Gotama, cũng có một kỹ nữ xinh đẹp có tên Vimàla. Kỹ nữ này đã say mê Trưởng lão Mục Kiền Liên, tìm mọi cơ hội để gặp và ra sức quyến rũ nhưng may mắn được Trưởng lão từ bi giáo huấn, khai thị khiến tâm tư được tỉnh ngộ, từ bỏ cuộc sống ô uế, xuất gia thành Tỳ kheo ni và sau một thời gian ngắn đạt được Thánh quả A la hán (12)

 Một truyện kể khác về nỗi đau khổ cũng được gán cho Nữ tôn giả được chép trong Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân như sau: Khi còn tại gia, Liên Hoa Sắc lập gia đình. Gần đến ngày sinh nở lần thứ ba, bà cùng chồng, con đầu lòng, con trai thứ hai và người hầu trở về nhà cha mẹ ruột để sinh con. Nửa đường thì trời sẩm tối, lại gặp nước con sông tràn đầy không thể vượt qua nên tất cả ngủ lại bên bờ sông. 

Khuya hôm ấy người chồng, người hầu cùng tất cả trâu, ngựa đi theo đã bị rắn độc cắn chết trong khi bà chuyển bụng sanh được một con trai. Quá đau khổ với hoàn cảnh tang thương, bà cố gắng chôn cất các tử thi, chờ nước sông rút bớt rồi để đứa con lớn ngồi trên bờ, cõng đứa con trai sau lưng, bọc hài nhi trong áo, lấy thắt lưng buộc chặt rồi ngậm nơi miệng lội qua sông. Đến giữa dòng, bà nghe tiếng gầm của hổ, quay lại thấy đứa con lớn bị hổ vồ. Bà đau đớn la lên thì hài nhi rơi theo dòng nước. Cuống quýt, bà cúi xuống mò tìm thì đứa con trên lưng cũng lại té xuống sông và bị nước cuốn trôi. Bà chỉ còn biết kêu gào than khóc và ngất lịm sau khi lội được vào bờ. Khi tỉnh lại, bà gặp nhóm người đi đường, trong đó có người quen với cha mẹ bà cho biết nhà hai đấng sinh thành bà vừa bị cháy đêm trước và cả hai đều đã bị chết thiêu. Bà lại đau đớn chết ngất khi nghe tin. 

Tỉnh lại, bà gặp bọn cướp. Tên tướng cướp bắt bà đi theo làm vợ, đem về sào huyệt giao cho việc trông nhà, mở cửa khi bọn họ chạy về ẩn núp lúc bị rượt đuổi. Một ngày trong lúc bà đang sinh con không thể mở cửa được cho tên cướp đang bị rượt bắt chạy về ẩn trú, hắn ta sau đó thoát được rồi về sào huyệt chặt hết tay chân hài nhi bắt bà phải ăn mới nguôi giận sự việc vì sanh hài nhi mà hắn suýt bị tóm cổ. 

Sau đó, tướng cướp cũng bị bắt và bị hành quyết. Bà cũng bị chôn sống theo luật pháp. Tuy nhiên, nhờ bị chôn không được kỹ và nhờ thú rừng tưởng tử thi moi đất lên ăn thịt mà bà được sống sót. Thoát chết, với nỗi buồn khổ tột đỉnh, bà tha thiết mong ước tìm một nơi sống an ổn và được một người chỉ đường đi đến xin xuất gia trong giáo pháp của đức Phật. Bà nghe theo, xuất gia tu hành, chứng quả và đạt thần thông đệ nhất (13).

 Thực ra nhiều tình tiết trong câu chuyện trên giống với hoàn cảnh của Nữ tôn giả Patàcàrà khi còn tại gia. Thời gian xưa trước, thông tin truyền thông chưa phổ biến rộng rãi như hiện tại nên có thể có sự nhầm lẫn khi dịch thuật Phạn-Hán giữa tên Patàcàrà và Uppalavannà hay không? Hoặc có chăng người trong hoàn cảnh trên trùng tên với nữ Tôn giả Liên Hoa Sắc? Điều đó rất mong được sự quan tâm, nghiên cứu và tìm hiểu thêm để hậu bối hiểu đúng về hành trạng hoàn toàn thanh tịnh, đức hạnh và cao quý của Nữ Tôn giả Liên Hoa Sắc (Uppalavannà). 

Kinh, Luật ghi chép Nữ Tôn giả Liên Hoa Sắc là người ưa thích độc cư và hay thiền định trong rừng. Mặc dù Tôn Ni từng chiến thắng sự đe dọa của ác ma, có năng lực siêu việt về thần thông, nhưng một ngày Tôn Ni bị người anh em họ, người yêu say đắm Tôn Ni khi còn tại gia, đã ẩn núp trong lều, nơi Tôn ni thiền tọa giữa rừng và cưỡng bức Tôn ni trong lúc không ngờ!(14).  Người này ngay sau đó bị đất nứt ra nuốt vào địa ngục. Chuyện này cũng được chư Tăng Ni đương thời bàn tán xôn xao về vấn đề liệu một A-la-hán còn dục ái hay không và đã được đức Phật giải đáp ái dục không vương vấn với các bậc Thánh như nước không dính trên lá sen, hay hạt cải không trụ trên đầu cây kim và được tóm gọn trong các câu Pháp cú 401: 

Như nước trên lá sen,

Như hạt cải đầu kim,

Người không nhiễm ái dục,

Ta gọi Bà-la-môn.

Cũng vì vấn đề này, đức Phật đã yêu cầu vua Ba-tư-nặc giúp đỡ xây Tinh xá cho chư Ni trong thành và ra giới luật không cho phép chư Ni ở trong rừng cũng như ngoài thành, nơi hoang vắng (15)

 Phải chăng đây là sự “thị hiện” của Tôn Ni để Đức Phật chế giới và để cảnh tỉnh chư Ni về mối hiểm nguy của sắc đẹp, để kẻ tà tâm lường được hậu quả thảm khốc của hành vi đê tiện đối với bậc Thánh Ni?! 

Hành trạng của Nữ tôn giả Uppalavannà là bài học giúp chư Ni chúng ta có niềm tin kiên quyết vào khả năng tu tập và chứng quả của nữ giới. Tuy nhiên, bài học đáng quan tâm nhất trong cuộc đời Tôn Ni là nhắc nhở chư Ni nên cẩn trọng phòng thân, không nên sống độc cư, nơi hoang vắng hoặc chốn có nhiều kẻ ác tâm có thể làm điều bất kính cho dù vị Ni đã chứng quả. Vì rằng khi chứng Thánh quả, không còn tái sanh nên hậu báo và sinh báo triệt tiêu, nhưng hiện báo (16) vẫn thành tựu do thân tứ đại vẫn còn hiện diện. Hành trạng của Tôn giả đệ nhất thần thông Mục Kiền Liên (Moggallàna) bên chư Tăng và của Tôn giả Vô Não (Angulimàla) cũng đã chứng minh rõ điều trên.

(Bài tham luận của Ni sư Tiến sĩ Thích Nữ Huệ Phúc tại Hội thảo "Ni giới Lâm Đồng: Truyền trì Chánh pháp, thừa hành Phật sự năm 2026)

Chú thích:

(1) Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya, Chương I- Một Pháp, XIV. Phẩm Người Tối Thắng, Nữ Đệ Tử Tỷ Kheo Ni, HT Thích Minh Châu Việt dịch. Ký Sự Trưởng Lão Ni (Theri Apadana), câu 588, bản Việt dịch của Tỳ kheo Indacanda, (website: budsas.org).

(2) Tiểu Bộ Kinh, Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm XI, Tập Mười hai Kệ, Uppalavanna, HT Thích Minh Châu Việt dịch. Ký Sự Trưởng Lão Ni (Theri Apadana), Sđd, câu 517. Tích Chuyện Pháp Cú, Chuyện thứ 10, Uppalavanna bị cưỡng bức, Thiền viện Viên Chiếu dịch, (website: budsas.org). Chú Giải Trưởng Lão Ni Kệ, Tỳ khưu Siêu Minh Việt dịch, Nhà Xuất bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, tr.424.

(3) Trưởng Lão Ni Kệ, Sđd. Ký Sự Trưởng Lão Ni (Theri Apadana), Sđd, câu 580. Tích Chuyện Pháp Cú, Sđd.

(4) Ký Sự Trưởng Lão Ni (Theri Apadana), Sđd, câu 515.

(5) Ký Sự Trưởng Lão Ni (Theri Apadana), Sđd, các câu 521-524.

(6) Tương Ưng Bộ, Chương V, Uppalavanna (S.i.131), HT Thích Minh Châu Việt dịch

(7) Chú Giải Trưởng Lão Ni Kệ, Sđd, tr. 411-12. Ký Sự Trưởng Lão Ni (Theri Apadana), Sđd, câu 568.

(8) Đại Tạng Kinh số 1451, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, Tỳ-nại-da Tạp Sự, Quyển 32, Hán dịch: Tam Tạng Nghĩa Tịnh, đời Đường, Trung Quốc, Việt dịch: Tỳ-khưu Tâm Hạnh, website: budsas.org. Phật Và Thánh Chúng, Thích Minh Tuệ, Phần 3: Phụ Lục, Liên Hoa Sắc, website: budsas.org. 

(9) Cũng có chuyện kể khi cô về nhà mẹ ruột sinh con thì chính mẹ ruột của Cô tư thông với chồng cô.

(10) Chú Giải Trưởng Lão Ni Kệ, Sđd, tr. 432 

(11) Lời vàng bậc Thánh, Sớ giải Trưởng lão Ni kệ, Kệ ngôn của Trưởng lão Ni số 13 Uppalavannà, Tỳ kheo Thiên Phúc, ấn phẩm 2007, nguồn http:// ww.budsas.org 

(12) Chú Giải Trưởng lão Ni kệ, sđd, tr.186

(13) Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, Quyển thứ 5, Phẩm Từ Bi thứ Bảy: Tỳ Kheo Ni Liên Hoa Sắc Cuộc Đời Và bài Học Vô Giá, website: tuvienhuequang.com.

(14) Tích Chuyện Pháp Cú, Chuyện thứ 10, Uppalavanna bị cưỡng bức, Sđd. 

(15) Đại Tạng Kinh số 1451, Tỳ-nại-da Tạp Sự, Quyển 32, (Sđd). Tiểu Phẩm, Chương X Tỳ Khưu Ni, câu 597, Tỳ khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch, Website: budsas.org

(16) Chú giải của tác giả: Một cách tóm tắt, quả báo của nghiệp trổ quả theo 3 cách: 1) Hiện báo: quả báo ngay trong đời này; 2) Sinh báo: quả báo trong đời sau; 3) Hậu báo: quả báo trong nhiều đời kiếp sau.

 

 

 

 

Download Android Download iOS
[Video] Trung ương Giáo hội tưởng niệm Đức đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự

Sáng 17/4 (nhằm mùng 1/3 năm Bính Ngọ), Trung ương Giáo hội đã long trọng, trang nghiêm cử hành Lễ tưởng niệm 42 năm ngày viên tịch của Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ – Đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN.

[Video] Hưng Yên: Kỷ niệm 75 năm thành lập Gia đình Phật tử Việt Nam

Chiều 5/4/2026, tại chùa Ngọc Khê (xã Nguyễn Trãi, tỉnh Hưng Yên), Ban Hướng dẫn Phật tử GHPGVN tỉnh phối hợp Phân ban Gia đình Phật tử tỉnh long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 75 năm thành lập GĐPT Việt Nam (1951 – 2026).

QUAN TÂM & HỖ TRỢ

Phật Sự Online với chủ trương “Nhanh chóng – Kịp thời – chính xác và Nhân văn” đăng tải các hoạt động Phật sự của các cấp Giáo hội và các tự viện trong cả nước cùng các chương trình tu học, thuyết giảng của chư Tôn đức Tăng, Ni giảng sư được truyền hình trực tiếp (Live Streaming) trên mạng xã hội: Facebook, Youtube, Phật Sự Online về các sự kiện Phật sự và trên 15 chương trình khác với mục đích “ Đẩy mạnh truyền thông Phật giáo như một kênh Hoằng pháp …”


Phật Sự Online có trên 60 nhân sự là phóng viên, Ban Biên tập và các bộ phận khác, vì vậy rất cần sự quan tâm chia sẻ, hỗ trợ của chư Tôn đức Tăng Ni, quý Phật tử và quý vị yêu mến Đạo Phật để có được kinh phí đảm bảo sự hoạt động bền vững và lâu dài.

Background Donate

Chủ tài khoản: KENH PHAT SU ONLINE

Số tài khoản: 070104929298

Ngân hàng Sacombank chi nhánh Kiên Giang

QRCOde Quan tầm và hỗ trợ phật sự online