Vĩnh Long: Lễ tưởng niệm cố Hòa thượng Thích Giác Khang, khởi công xây dựng Tam bảo Đạo tràng Giác Khang

Nghe đọc bài:

PSO - Sáng ngày 16/5/2026 (nhằm ngày 30/3 năm Bính Ngọ) Điểm sinh hoạt Tôn giáo tập trung Đạo tràng Giác Khang (tại ấp Hương Phụ A, xã Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long), đã long trọng tổ chức lễ tưởng niệm lần thứ 13 cố Hòa thượng thượng Giác hạ Khang, khởi công xây dựng ngôi Tam bảo, đảnh lễ xá lợi, chiêm bái vật dụng cố Hòa thượng Thích Giác Khang - nguyên Trụ trì tịnh xá Ngọc Vân.

Tụng kinh cầu nguyện khởi công xây dựng ngôi Tam bảo Đạo Tràng Giác Khang

Chứng minh và tham dự buổi lễ có Hòa thượng Thích Viên Minh, Hòa thượng Thích Phước Minh, Hòa thượng Thích Tâm Linh - đồng Chứng minh BTS GHPGVN tỉnh Vĩnh Long; Hòa thượng Thích Trí Minh - Ủy viên HĐTS, Phó Trưởng ban Thường trực BTS GHPGVN tỉnh; Hòa thượng Thích Huệ Pháp - Ủy viên HĐTS, Phó trưởng BTS GHPGVN tỉnh; Thượng tọa Thích Tâm Khiết - Phó trưởng Ban kiêm Chánh Thư ký BTS GHPGVN tỉnh; Thượng tọa Thích Phước Nguyên, Đại đức Thích Huệ Thắng - đồng Phó trưởng BTS GHPGVN tỉnh cùng chư Tôn đức Thường trực BTS GHPGVN tỉnh, chư Tôn thiền đức Tăng các hệ phái, đông đảo Phật tử trong và ngoài tỉnh cùng tham dự.

Chư Tôn đức thành tâm dâng hương tưởng niệm nhân Lễ huý kỵ lần thứ 13 cố Hòa thượng Thượng Giác Hạ Khang tại Điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung Đạo Tràng Giác Khang

Trong không khí trang nghiêm thanh tịnh, chư Tôn đức thực hiện nghi thức dâng hương, đảnh lễ Tam bảo, tụng kinh, sái tịnh cầu nguyện công trình xây dựng ngôi Tam bảo Đạo Tràng Giác Khang sớm thành tựu đưa vào hoạt động trong thời gian sớm. 

Sau đó, chư Tôn đức thành kính dâng hương, đảnh lễ tưởng niệm và nhất tâm cầu nguyện Giác linh cố Hòa thượng Thích Giác Khang cao đăng Phật quốc.

Cung đối trước chư Tôn đức, Đại đức Thích Minh Cảnh - Quản lý Đạo Tràng Giác Khang thay mặt môn đồ đệ tử cung tuyên Tiểu sử cố Hòa thượng Ân sư Thích Giác Khang

Tiếp đến, Đại đức Thích Minh Cảnh - Quản lý Đạo Tràng Giác Khang cung đối trước chư Tôn đức Giáo phẩm cung tuyên Tiểu sử cố Hòa thượng Thích Giác Khang.

Di ảnh Trưởng lão Hòa thượng Giác Khang

I- THÂN THẾ:

Hòa thượng pháp hiệu Thích Giác Khang, thế danh Tô Văn Vinh, sinh năm 1941 tại Hòa Bình, Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Xuất thân từ một gia đình nho giáo. Cha là cụ ông Tô Lái, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Huôi. Hòa thượng là con thứ tám trong một gia đình có mười anh em.

II- XUẤT GIA:

Ngài có túc duyên, thiện căn với Phật pháp. Vì có chí hướng với Tam Bảo, cho nên lúc nhỏ, khi Hòa thượng Giác Khang theo cụ bà vào chùa là muốn ở trong chùa luôn, nhưng cụ ông không cho, bắt phải đi học.

Năm mười bảy tuổi, Hòa thượng đậu Tú tài một tiếng Việt tại trường Tabert thuộc Công giáo, nhưng Ngài thấy không hợp nên nghỉ học. Gia đình chuyển cho Ngài học tiếng Hoa ở trường Tàu. Sau hai năm, Ngài thi đậu Tú tài hai tiếng Hoa. Năm mười chín tuổi, do thời cuộc, Ngài thi vào sư phạm. Song song với việc học sư phạm, Ngài tự học và thi đậu Tú tài hai tiếng Việt. Sau hai năm học và tốt nghiệp sư phạm, lúc này Ngài hai mươi mốt tuổi, được bổ nhiệm dạy tại Cái Côn (Kế Sách, Trà Ôn, Cần Thơ). Mấy năm liền, Hòa Thượng đều hoàn thành xuất sắc giảng dạy và phẩm chất đạo đức tốt. Sau ba năm, Ngài được ngành giáo dục bổ nhiệm làm Hiệu trưởng. Vừa dạy, Ngài vừa tự sưu tầm nghiên cứu kinh điển Phật giáo, trăn trở, thao thức trên con đường giải thoát. Và nhờ có sẵn chủng tử Phật pháp trong lòng, đồng thời Ngài thông thạo Hoa ngữ và Pháp văn cho nên khi tiếp cận giáo lý Phật pháp tiếng Hoa và tiếng Việt, Ngài thông hiểu dễ dàng. 

Từ lúc đi dạy, Hòa thượng Giác Khang đã tập tu các pháp môn và nghiên cứu giáo lý của các tôn giáo khác. Giai đoạn này, Sư tập ngồi thiền và đọc sách thánh nhân, Sư đọc nhiều sách của tu tiên và sách của Nguyễn Duy Cần. Sau một thời gian, cơ thể của Sư không thể dùng thức ăn mặn được. Thời điểm này, Sư cảm nhận lời Phật dạy qua câu nói “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành’’. Rồi từ đó, Ngài tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về giáo lý nhà phật và đến tham vấn với nhiều chư tăng về sự xuất gia cũng như giáo lý Phật đà. Ngài cảm nhận được lòng từ bi của chư Phật qua giáo lý ăn chay, từ đó Sư phát tâm trường chay. Thời đó, thầy giáo là công việc lương cao và cũng là một nghề danh giá, được xã hội tôn trọng nên có nhiều người muốn gả con gái cho Sư. Mẹ của Sư từ dưới quê Bạc Liêu lên tìm Sư và nói rằng “Có người muốn gả con gái cho mày nên tao lên kêu mày về cưới vợ”. Sư nghe vậy nói cụ bà về từ chối người ta liền vì Sư không muốn cưới vợ. Sư sợ cảnh gia đình vì ấn tượng trước đây khi dạy tại trường. Thấm nhuần lời Phật dạy và chí nguyện xuất gia giải thoát. Năm 1966, Ngài làm đơn xin từ chức. Hòa Thượng về nhà xin ông thân, bà thân xuất gia nhưng không được đồng ý liền mà phải mất mấy tháng thuyết phục.

Sư kể “Ông thân thấy khó mà dễ, bà thân thấy dễ vậy mà khó. Cái tình thương của người nữ mãnh liệt. Tui quỳ xuống xin, ổng nổi giận, nói đi là đi luôn, cấm về nhà, gặp ở đâu là ông đánh ở đó. Còn đến khi quỳ xin bà thân thì bà không nói gì mà chỉ khóc. Trong mấy tháng trời, mỗi lần tui quỳ xuống xin là bà khóc. Việc kéo dài như vậy đến mấy tháng sau, tui quyết xin một lần và nói với bà thân nếu không cho đi xuất gia thì có thể sẽ đi lính. Thời kỳ đó chiến tranh ác liệt, đi lính thì xem như khó biết có ngày trở về hay không. Vì thương con, sợ cảnh con tham gia chiến trường nên bà thân đã đồng ý cho tui đi tu. Chiều hôm đó, tui vội vào tịnh xá, bạch với các sư trong tịnh xá về việc bà thân đã đồng ý. Các sư khuyên nên đi ngay trong đêm vì sợ để đến trời sáng bà sẽ đổi ý, sẽ không đi được. Tối hôm đó vào lúc nửa đêm tui dọn hành lý và đi. Cái tình thương của người mẹ là một điều da diết. 

Khuya đó, tui định âm thầm đi, không cho ai trong nhà biết vì sợ cảnh đưa tiễn nhưng bà thân linh cảm biết tui sẽ đi. Khi đi ngang phòng của ông bà thân thì nghe tiếng ông thân ngáy o o, nhưng lại nghe tiếng bà thân khóc, bà thân hỏi “sao mày đi giờ này, không đợi sáng mai rồi đi”. Tui nói đi giờ này trời mát dễ có xe nên đi giờ này cho tiện. Bà muốn đưa tui ra xe nhưng tui nói thôi, giờ này khuya rồi bà đưa đi không tiện mà ra đó bà khóc, người ta nhìn thì kì lắm. Tui đi ngang phòng ông anh với bà chị dâu thì nghe tiếng ông anh ngáy và cũng nghe tiếng bà chị dâu khóc, hỏi tui sao đi giờ này và cũng muốn đưa tui ra xe, tui cũng từ chối. Nhưng rốt cuộc hai bà cũng quyết đưa tui ra xe cho bằng được. Đó là lần đầu tiên trong đời tui cảm thấy đau đớn. Tui bước lên xe mà nghe tiếng khóc của hai bà, lòng tui đau, nước mắt tui chảy mà tui không có gan quay mặt lại nhìn. Bước mấy bước lên xe mà nước mắt chảy, chân nặng như đá, tui không dám quay lại nhìn bà vì tui biết nếu tui quay lại nhìn bà, tui sẽ bước xuống xe, không đi tu được. Cái tình thương của người nữ da diết và trói cột”. 

Ngày 24/4/1966 Ngài xuôi dòng về tỉnh Trà Vinh, cầu Trưởng lão Thích Giác Như, Trưởng ban Trị sự thuộc hệ phái Khất sĩ, Trụ trì tịnh xá Ngọc Vân tế độ. 

Phối cảnh ngôi Tam bảo Đạo Tràng Giác Khang sau khi thi công hoàn thành/-strong/-heart:>:o:-((:-h
 

III- PHẬT SỰ VÀ HÀNH ĐẠO: 

Ngày 15/10/1966 Ngài được Trưởng lão Thích Giác Như truyền trao giới Sa Di.

Từ năm 1978, Sư theo Luật Khất Sĩ của Tổ sư Minh Đăng Quang, Ngài theo Nhị tổ Thích Giác Chánh du Tăng hành đạo hoằng pháp độ sinh khắp muôn nơi. “Bát cơm xin ngàn nhà, Thân chơi ngàn dặm xa, Muôn dặm đi đi mãi, Ngủ nghỉ dưới cội cây”. 

Ngày 15/7/1971 Ngài thọ giới cụ túc Tỳ kheo tại tịnh xá Ngọc Viên, tỉnh Vĩnh Long. Nói về quá trình thọ giới, Sư kể: Mọi người khi đó không gọi Nhị tổ Giác Chánh là Nhị tổ mà thường gọi là Thượng tọa. Mới vào xuất gia cùng một lượt với tui có tất cả hơn 10 người nhưng đến khi thọ giới Sa di thì chỉ còn khoảng dưới 6 người do quá trình tu từ tập sự 8 giới đến thọ giới Sa di, mỗi lần quý sư xin Nhị tổ cho các ông tập sự thọ giới thì đều bị Nhị tổ rầy: mấy ông đó (tập sự) mà tu cái gì, đuổi về hết đi. Các sư xin cho thọ giới cũng bị la, bị phạt quỳ hương. Vì mỗi lần xin thì bị rầy la và không được thọ giới nên nhiều người lần lượt bỏ về. Phải ba lần xin, tui cùng các vị tu chung mới được thọ giới mà người chứng minh là Trưởng lão Giác Như, bởi lần thứ ba Nhị tổ vẫn không chịu chứng minh. Chỉ cần cho tui thọ sa di là được vì thọ sa di thì được đi bát, theo du tăng, còn thọ Tỳ kheo thì bao lâu cũng được. Đến khi thọ giới Tỳ kheo cũng bị như vậy. Rất khó khăn vì Nhị tổ không đồng ý. Đến lần thứ ba cũng là nhờ Trưởng lão Giác Như chứng minh, nhưng mãi sau này mới biết công hạnh của Ngài độc đáo. Vì sau khi thọ giới Tỳ kheo, tui mới có cơ hội nói chuyện với đức Nhị tổ, do Nhị tổ trước giờ chỉ nói chuyện với Tỳ kheo là nhiều, hầu như rất ít nói chuyện với Sa di.

Phật tử thành tâm với lòng tôn kính chiêm bái xá lợi, vật dụng cố Hòa thượng Thích Giác Khang

Sau khi thọ giới Tỳ kheo, tui đi hành đạo chung với Ngài và hỏi thẳng Nhị tổ về chuyện: Sao hồi đó Thượng tọa khó khăn quá vậy, tụi con bỏ cha bỏ mẹ bỏ nhà cửa đi tu mà Thượng tọa còn làm khó tụi con. Nhị tổ trả lời: “Sư Khang biết hông, ông là thầy giáo đi tu nên cái ngã của ông thầy giáo lớn lắm. Tui nói không cho các ông tu, không cho các ông thọ giới nhưng tui đâu có đuổi ai, cũng không có quăng quần áo của các ông ra khỏi cổng tịnh xá. Nếu các ông thật sự quyết chí tu, cho dù tui có quăng đồ của các ông ra các ông cũng sẽ không bỏ đi. Đường tu sau này còn nhiều pháp nạn, nếu chỉ có khảo như vậy mà mấy ông chịu không nổi thì làm sao mà tu, tu tới cùng”.

Từ đó tui mới thấy hạnh của Nhị tổ độc đáo và ngày sau gặp pháp nạn càng thắm thía lời Nhị tổ năm nào. Năm 1982, Đoàn du Tăng phải giải tán, Ngài trở về tịnh xá Ngọc Vân hành đạo. Năm 1983, Trưởng lão Thích Giác Như lên dự buổi họp mặt tại tịnh xá Ngọc Viên, do sức khỏe yếu, Ngài đã viên tịch tại tịnh xá Ngọc Viên. Và Trưởng lão Thích Giác Như trao lại ngôi vị Trụ trì tịnh xá Ngọc Vân cho Hòa thượng Thích Giác Khang. 

Vào buổi trà sáng năm 2012, tại vườn trúc Ngài đọc cho sư Minh Cảnh nghe một bài kệ: “Đèn trăng quạt gió say mùi đạo, Chiếu đất mùng trời lẽ có không. Vũ trụ xoay vần lòng chẳng bận, Trò đời thay đổi vẫn thong dong.” Và nói vào đêm giao thừa năm 1983-1984, trong lúc ngồi thiền Ngài đã làm bài kệ này tại Tịnh xá Ngọc Vân. Từ đó, với lòng bi mẫn, Hòa thượng Thích Giác Khang hoằng dương thuyết giảng giáo lý Phật pháp cho chư Tăng Ni hệ phái Khất sĩ và các Phật tử qua các đề tài: Tứ Diệu Đế, Tứ Niệm Xứ, Duy Thức, Thủ Lăng Nghiêm, Kinh Sáu – Sáu, Thiền Tông, Tịnh Độ, 15 Hạng Chúng Sanh,… Ngài giảng khắp nơi trong và ngoài tỉnh.

Nhìn nhận về người tu, Sư từng dạy: “Người tu quan trọng nhất là phải có giới luật. Chùa mà không có giới thì không khác gì cái nhà đời, người tu mà không có giới hạnh thì cũng không khác gì người đời. Vì chúng ta còn là phàm phu, thì cần nhìn người tu nào có hành trì giới hạnh mới nên theo tu học ở nơi đó, nơi nào không có giới hạnh thì nên âm thầm tránh xa, cũng không nên phê phán hay chỉ trích”. Cuộc đời của Sư mặc cho thời cuộc đổi thay, tôn giáo cách tân cải tiến, Sư vẫn “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn người đến chốn lao xao”. 

Sư là một nhà sư đi trên hành trình giải thoát bằng cách hành trì an trú vào trú dạ lục thời, thời khắc biểu hiện niết bàn, và vì chúng sanh giảng pháp đến giây phút cuối cùng trong cuộc đời. Thân giáo, khẩu giáo, ý giáo nơi Sư là một sự trình diễn sống động và chân thật. Một nhà sư ôm bát đi xin, xem kinh thuyết pháp và hành đạo một cách hiện thực khiến cho người Phật tử sơ cơ biết thế nào là người tu thật sự và không bị lạc trong mê hồn trận của các trò hý lộng diễn ngôn về hai chữ tùy duyên. Chúng con nhờ có Sư mới biết thì ra người tu theo như trong kinh sách là có thật, biết được cái gì gọi là Tỳ kheo, cái gì là Đạo Phật Khất Sĩ và cái gì gọi là Tu. 

IV- THỜI KỲ VIÊN TỊCH: 

Đầu năm 2013, Ngài có nói với sư thị giả (sư Minh cảnh) là sẽ trở về quê một chuyến. Lúc đó, sư Minh Cảnh nghĩ là Ngài muốn về Bạc Liêu nên bạch với sư phụ là để con nói các cô chuẩn bị xe. Hòa thượng nghe xong cười và nói là đi Ấn Độ. Ngày 10/2/2013, Hòa thượng và sư thị giả cùng Phật tử trong đoàn hành hương chiêm bái các thánh tích của Đức Phật. Kể từ đó sức khỏe Ngài yếu, biết trước mình không còn trụ thế nữa, Ngài họp các chư Tăng đệ tử lại dặn dò: Các huynh đệ cùng nhau sống lục hòa, giữ giới luật kỹ lưỡng, trao đổi nhắc nhở lẫn nhau kiến thức Phật pháp, để cùng tiến đến con đường giải thoát. 

Trước hai ngày viên tịch, mạch không có, huyết áp không hiện lên, bác sĩ quỳ lạy Ngài bạch: Nếu người thường thì đã chết từ lâu, Ngài là bậc Thánh nhân, con đê đầu kính lạy. Tuy thế, Ngài vẫn giảng pháp hướng dẫn những điểm cốt lõi cho Phật tử cách tu hành cho tới phút viên tịch. Ngài xả bỏ báo thân vào lúc 03 giờ 30 phút, ngày 30/3/2013 (Quý Tỵ). Trụ thế: 74 năm, Hạ lạp: 42 năm.

Xót xa thay ngọn đèn pháp đã tắt. Người Phật tử như con trong khoảnh khắc đó nghe như tiếng sầu từ nơi vô thức sâu thẳm của vô lượng kiếp người trầm luân vọng lại, tịch liêu không lời diễn đạt. Nước mắt chảy không phải vì thương Ân sư mà là vì mình không còn điểm tựa Bồ đề ở chốn hồng trần này nữa. Hoa ưu đàm tuy ẩn, nhưng hương vẫn ngan ngát thơm bay khắp muôn phương: hương giới đức, hương định huệ, hương giải thoát của một đời chân tu. Với tấm lòng rộng mở vì Phật pháp, đem lại sự an lạc, giải thoát cho mọi người và thương tưởng thế hệ tương lai. Dù nói bao nhiêu cũng không đủ ngôn từ để diễn đạt hết những điều đáng nói về Hòa thượng Ân sư. Hàng đệ tử chúng con đồng phát nguyện theo hạnh nguyện của Hòa thượng Ân sư, để gọi là đền đáp thâm ân trong muôn một. Đồng thời, tác bạch cúng dường trai Tăng lên chư Tôn đức hiện tiền chứng minh tại buổi lễ nhằm hồi hướng công đức cầu nguyện Giác linh Ân sư Thượng phẩm Thượng sanh.

Hòa thượng Thích Phước Minh - Chứng minh BTS GHPGVN tỉnh Vĩnh Long ban đạo từ

Thay mặt Ban chứng minh, Hòa thượng Thích Phước Minh ban đạo từ tán dương công đức Đại đức Thích Minh Cảnh, môn đồ pháp quyến cùng toàn thể Phật tử trên tinh thần "Ân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng, Nghĩa ân sư muôn kiếp khó đáp đền" đã trang nghiêm tổ chức lễ tưởng niệm Huý kỵ cố Hòa thượng Thích Giác Khang đã nói lên được tinh thần hiếu đạo của những người con Phật. Hòa thượng bày tỏ niềm hoan hỷ, khi Thường trực BTS GHPGVN tỉnh, chính quyền địa phương đã cho phép, cùng sự phát thiện tâm lành từ quý Phật tử gần xa đã thành lập Đạo Tràng Giác Khang như hiện tại, để Tăng Ni và Phật tử có nơi tu học. 

Ngài cho biết thêm Đạo tràng với tôn hiệu Giác Khang, là tên của cố Hòa thượng nguyên Trụ trì tịnh xá Ngọc Vân trước đây, “Giác” có ý nghĩa là Giác ngộ, trong đời sống lỡ chúng ta có làm sai việc gì thì phải biết sửa, quay về chính mình ngăn chặn ba nghiệp cho thanh tịnh; “Khang” nghĩa là An khang thịnh vượng để Đạo tràng ngày càng phát triển trong hướng tương lai tốt đẹp hơn với ý nghĩa "Phật pháp xương minh do Tăng già hoằng hóa, Thiền môn hưng thịnh nhờ thiện nam tín nữ phát tâm". 

Qua đó, Hòa thượng có đôi lời sách tấn Đại đức Thích Minh Cảnh phải nỗ lực trau dồi Giới, Định, Tuệ, hoằng dương chánh pháp, tích cực hướng dẫn nam nữ Phật tử tu tập đến ngày Giác ngộ và giải thoát. Nhân đây, Hòa thượng kỳ vọng Tăng, Ni, Phật tử trong và ngoài tỉnh thời gian tới tiếp tục trợ duyên lành, ủng hộ cho Đại đức Thích Minh Cảnh để sớm xây dựng hoàn thành ngôi Tam bảo có chỗ che nắng, che mưa, để Đại đức an tâm tu học, hạnh đạo cũng như Phật tử có nơi tu học ổn định, trang nghiêm hơn. 

Đại diện hàng Phật tử hiện diện, Phật tử Đăng Lan tại (TP.HCM) dâng lời tưởng niệm cố Hòa thượng Thích Giác Khang, bậc Thầy khả kính nhiều thế hệ Tăng Ni và Phật tử khắp nơi

Kế đến, Phật tử Đăng Lan, thay mặt hàng Phật tử dâng lời tưởng niệm cố Hòa thượng Thích Giác Khang, phát biểu cảm tạ của Ban Tổ chức, chư Tôn đức thọ trai trong chánh niệm. 

Cuối buổi lễ, chư Tăng hệ phái Nam tông, Khất sĩ cử hành nghi thức tụng kinh cầu siêu, tưởng niệm cố Hòa thượng Thích Giác Khang, trì bình khất thực trong khung viên Đạo tràng Giác Khang, tái hiện lại Tăng đoàn Thế Tôn đi khất thực năm xưa, khép lại buổi lễ trong niềm hỷ lạc và thập phần viên mãn.

Pháp Trí

Download Android Download iOS
[Video] An Giang: Tịnh xá Ngọc Hải tưởng niệm húy kỵ lần thứ 10 cố Ni trưởng Thích Nữ Liễu Liên và lễ đại tường cố Ni trưởng Thích Nữ Ánh Liên

Sáng 11/5/2026 (nhằm ngày 25/3 năm Bính Ngọ), tại Tịnh xá Ngọc Hải, P. Rạch Giá, tỉnh An Giang, chư Tôn đức Ni Hệ phái Khất sĩ cùng môn đồ pháp quyến đã trang nghiêm tổ chức lễ húy kỵ lần thứ 10 tưởng niệm cố Ni trưởng Thích Nữ Liễu Liên và lễ đại tường cố Ni trưởng Thích Nữ Ánh Liên - là những bậc tiền nhiệm trụ trì tịnh xá.

Ít muốn sẽ thấy an vui, biết đủ ta sống cả đời bình yên

Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng nghe rằng: “Mong muốn càng ít thì hạnh phúc càng nhiều” hay như “Biết đủ chính là cách nắm giữ hạnh phúc trong tay”… Tuy đây là những câu nói tưởng chừng như đã cũ, nhưng chúng luôn chứa đựng những lời dạy mới mẻ mà có thể chúng ta chưa biết được hết.

TP.HCM: Triển khai Thông bạch của Hội đồng Trị sự về Khóa sinh hoạt Phật pháp mùa hè 2026

PSO - Giữa những biến động của đời sống hiện đại, khi nhiều người trẻ đang chông chênh giữa áp lực học tập, mạng xã hội và khủng hoảng niềm tin, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục chọn tuổi trẻ là trọng tâm của hành trình hoằng pháp. Sáng 14/5/202 (nhằm ngày 28/3 năm Bính Ngọ), tại chùa Đức Nguyên (TP.HCM), chư Tôn đức Phân ban Hoằng pháp Thanh

QUAN TÂM & HỖ TRỢ

Phật Sự Online với chủ trương “Nhanh chóng – Kịp thời – chính xác và Nhân văn” đăng tải các hoạt động Phật sự của các cấp Giáo hội và các tự viện trong cả nước cùng các chương trình tu học, thuyết giảng của chư Tôn đức Tăng, Ni giảng sư được truyền hình trực tiếp (Live Streaming) trên mạng xã hội: Facebook, Youtube, Phật Sự Online về các sự kiện Phật sự và trên 15 chương trình khác với mục đích “ Đẩy mạnh truyền thông Phật giáo như một kênh Hoằng pháp …”


Phật Sự Online có trên 60 nhân sự là phóng viên, Ban Biên tập và các bộ phận khác, vì vậy rất cần sự quan tâm chia sẻ, hỗ trợ của chư Tôn đức Tăng Ni, quý Phật tử và quý vị yêu mến Đạo Phật để có được kinh phí đảm bảo sự hoạt động bền vững và lâu dài.

Background Donate

Chủ tài khoản: KENH PHAT SU ONLINE

Số tài khoản: 070104929298

Ngân hàng Sacombank chi nhánh Kiên Giang

QRCOde Quan tầm và hỗ trợ phật sự online