HT.TS. Thích Bảo Nghiêm
Phó chủ tịch HĐTS - Trưởng Ban Hoằng Pháp TƯ GHPGVN
I. DUYÊN KHỞI
Khi thế giới bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ III (1969 – 1997), internet được xem như một phát minh vĩ đại của nhân loại. Nó mở toang mọi cánh cửa của các quốc gia trên hành tinh xanh. Nó tạo điều kiện cho tin tức, hình ảnh và âm thanh tràn ngập mọi ngõ ngách khắp năm châu bốn biển. Nhân loại như trải qua một thời kỳ được giải phóng toàn diện. Mọi rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, địa dư, lịch sử, sắc tộc, chính trị… như bị phá vỡ hoàn toàn. Con người như được xích lại gần nhau trong gang tấc. Một sự kiện vừa xảy ra tại bất cứ nơi đâu trên thế giới đều sẽ lan truyền nhanh ra khắp dịa cầu. Đây thật sự là một cuộc cách mạng vĩ đại trong bước tiến đời sống nhân loại.
Không dừng lại ở đấy, vào năm 1995 thế giới lại xuất hiện một loại hình dịch vụ tương tác cá nhân, đó là dịch vụ mạng xã hội (Social Networking Service - SNS). Hiện nay thế giới có hàng trăm dịch vụ mạng xã hội khác nhau, với MySpace, Twitter và Facebook nổi tiếng nhất trong thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu; Orkut và Hi5 tại Nam Mỹ; Friendster tại châu Á và các đảo quốc Thái Bình Dương. Dịch vụ mạng xã hội khác gặt hái được thành công đáng kể theo vùng miền như Bebo tại Anh Quốc, CyWorld tại Hàn Quốc, Mixi tại Nhật Bản và tại Việt Nam xuất hiện rất nhiều các dịch vụ mạng xã hội như: Zing Me, YuMe, Tamtay, Facebook, Youtube, Zalo, Butta…
Những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2010 cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã diễn ra lại một lần nữa khi nơi nơi đều có thể sử dụng đường truyền tốc độ cao băng thông rộng, hơn thế nữa là những năm gần đây khi công nghệ 4G ra đời đã tạo nên một bước đột phá mạnh khi tất cả những chiếc điện thoại thông minh và thiết bị cầm tay đều có thể kết nối với tất cả các thiết bị ở bất cứ nơi nào qua đường truyền tốc độ cao của công nghệ 4G, thì mạng xã hội (MXH) đã có bước phát triển mạnh mẽ và đột phá, tác động lớn đến đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. MXH đã trở thành một thuật ngữ phổ biến với những tính năng đa dạng cho phép người dùng kết nối, chia sẻ, tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả. Không thể phủ nhận vai trò tích cực của MXH.
Tại Việt Nam, các MXH bắt đầu du nhập từ những năm 2000 dưới hình thức các trang nhật ký điện tử (blog). Đến nay (số liệu năm 2019), có khoảng 455 MXH được cấp giấy phép hoạt động, Theo báo cáo thống kê, tại Việt Nam vào tháng 1 năm 2020 hiện nay với khoảng 68,17 triệu người đang sử dụng dịch vụ internet và các dịch vụ truyền thông - MXH. Theo báo cáo Vietnam Digital Advertising 2019 do Adsota phát hành, trong năm qua, trung bình hàng ngày mỗi người Việt Nam dành khoảng 6 tiếng 42 phút (tương đương với 1/4 ngày), để truy cập Internet trên tất cả các thiết bị. Trong đó, 2 tiếng 33 phút được dành để truy cập vào các mạng xã hội, cao hơn so với mức trung bình của thế giới là 2 tiếng 16 phút. Đối tượng sử dụng mạng internet thường xuyên nhất là nhóm lứa tuổi từ 15-40 tuổi. Nhóm đối tượng này chủ yếu là học sinh, sinh viên và người lao động. Nhìn chung, họ là những người trẻ, có điều kiện tiếp cận với máy tính và mạng internet, nhanh nhạy trong việc tiếp thu những tiến bộ khoa học công nghệ cũng như những trào lưu mới trên thế giới.
Từ khi điện thoại thông minh ra đời, MXH lại có thêm đông đảo người sử dụng. Bây giờ MXH không còn giới hạn trong giới trẻ nữa, mà đã lan rộng đến tất cả mọi lứa tuổi: từ một em thiếu niên cho đến cụ già “thất thập cổ lai hi” đều có thể tham gia vào một MXH nào đó. Về thành phần xã hội những người tham gia MXH giờ đây cũng không còn giới hạn trong học sinh sinh viên, công chức, trí thức… nữa, mà có thể nói bất cứ thành phần nào trong xã hội (miễn là người đó biết đọc biết viết) cũng đều có thể trở thành “cư dân” của MXH.
II. NHỮNG LỢI ÍCH DO MẠNG XÃ HỘI ĐEM LẠI
Các nhà xã hội học đã tổng kết được 10 lợi ích trong việc sử dụng mạng xã hội như sau:
- Cập nhật tin tức, kiến thức, xu thế.
- Cải thiện chất lượng và tốc độ của báo chí và dịch vụ công.
- Kết nối bạn bè, gia đình, cộng đồng.
- Kết nối yêu thương và hòa nhập quốc tế.
- Cải thiện kỹ năng sống, kiến thức.
- Kinh doanh, quảng cáo miễn phí.
- Tiết kiệm kinh phí, thời gian, sức lao động và thân thiện với môi trường.
- Giải trí.
- Khuyến khích, phát huy tài năng.
- Bày tỏ và kiểm soát cảm xúc.
IV. TĂNG NI TRẺ VÀ MẠNG XÃ HỘI
Như trên đã nói, hiện nay MXH không còn là riêng của thành phần nào trong xã hội. Tuy chưa có thống kê chính xác nào được đưa ra, nhưng người viết bài này có thể nói rằng 80% Tăng Ni trẻ hiện nay đều có sử dụng từ một hoặc hai, ba MXH cùng lúc, tôi muốn nói là họ sở hữu 1 hoặc 2, 3 nick name để ghi tên mình vào cộng đồng MXH. Sự tham gia MXH của Tăng Ni trẻ là không thể kiểm soát và càng không thể cấm đoán. Đây là một thực tế mà lãnh đạo các cấp Giáo hội phải mặc nhiên chấp nhận.
Trên thực tế nhiều năm qua, chúng ta có thể thấy MXH mặc dù có mang lại sự lợi ích cho Tăng Ni trẻ, nhưng những thách thức mà nó đem đến trong việc quản lý và giáo dục Tăng Ni trẻ theo đường hướng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhằm hướng đến hình ảnh m u người xuất gia hoàn thiện cũng gặp không ít khó khăn.
Về những lợi ích và những thiệt hại mà Tăng Ni trẻ có được hay phải gánh chịu, chúng ta có thể kết luận rằng việc tăng ni trẻ thường xuyên sử dụng MXH là “lợi bất cập hại”.
- Đối với những lợi ích do MXH đem lại:
VI. KẾT LUẬN
Ngày xưa, Đức Phật hàng dạy các đệ tử không nên sử dụng thần thông một cách bừa bãi là vì Ngài biết rằng thần thông sẽ làm thui chột các đức tính chân thiện mỹ của người xuất gia cầu giác ngộ giải thoát.
Ngày nay, trong thế kỷ XXI cách thời Phật hơn 2600 năm, không ngờ Tăng Ni chúng ta đang sống dưới thời đại quá nhiều “thần thông” do khoa học đem lại, trong đó internet và Mạng xã hội là một minh chứng. Nếu thiếu tỉnh thức trong việc sử dụng MXH cũng sẽ đem lại không ít chướng duyên đối với việc tu tập giải thoát và cũng là một vấn nạn thách thức lớn đối với Giáo hội các cấp trong công tác quản lý của ngành Tăng sự. Do vậy đời sống hiện nay rất cần ứng dụng lời dạy của Đức Phật vào đời sống tu tập thường nhật, nên các cấp giáo hội cần thường xuyên và tăng cường việc vận động - tuyên truyền Giáo dục ý thức đối với Tăng Ni, cần sử dụng MXH đúng với tinh thần điểm thứ 8 của Nghị quyết phương hướng hoạt động Phật sự của Đại hội VIII đã đề ra “Đ y mạnh truyền thông Phật giáo như một kênh Hoằng pháp … “với tinh thần trách nhiệm và ý thức sử dụng MXH theo tinh thần chính niệm” hướng đến “Tịnh hóa công dân mạng” góp phần xây dựng “không gian mạng an toàn” là một nền tảng cần phải có trong việc phát triển bền vững hệ sinh thái số của nước nhà.
Nhớ lời Phật dạy, Tăng Ni chúng ta cần sáng suốt và bình tĩnh để làm chủ khoa học, thay vì làm nô lệ cho nó. Đó chính là điều mà tất cả những ai có trách nhiệm và tâm huyết với tương lai Đạo Pháp cần tư duy quán chiếu thường xuyên./.
Ban Biên tập PSO



