PSO - Hướng lòng thành kính về ngày vía Đức Phật A Di Đà, ngày 4 tháng 1 năm 2026, nhằm ngày 16 tháng 11 năm Ất Tỵ, tại chùa Bằng - Linh Tiên Tự (số 63 phố Bằng Liệt, phường Hoàng Liệt, Hà Nội) đã diễn ra khóa tu Tịnh Độ với sự tham dự của đông đảo Phật tử Đạo tràng Pháp Hoa miền Bắc.
Được biết, khóa tu sẽ diễn ra trong hai ngày 4, 5/1/2026 (tức ngày 16,17/11/Ất Tỵ).
Đúng 7h30' sáng, Hòa thượng trụ trì Thích Bảo Nghiêm - Phó chủ tịch HĐTS kiêm Trưởng Ban hoằng pháp TW GHPGVN đã làm lễ niêm hương bạch Phật và đăng đàn truyền giới cho các hành giả tu tập Bát Quan Trai giới trong ngày tu này. Hòa thượng nhắc nhở Phật tử phải nhất tâm giữ giới trọn vẹn trong ngày tu Bát Quan Trai này, bởi đây là tư lương, và là điều kiện cần thiết để hành giả đi vào cảnh giới an lạc, hạnh phúc.
Được biết, Đạo tràng Pháp Hoa đang bắt đầu bước vào mùa tu Gia Hạnh Phổ Hiền, diễn ra từ ngày vía Đức Phật A Di Đà đản sinh cho đến ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo (từ 17/11 đến 8/12 âm lịch). Đây là khoảng thời gian vô cùng ý nghĩa, mang tính chuyển hóa và thúc liễm thân tâm, nhắc nhở hàng đệ tử Phật nói chung, hành giả Pháp Hoa nói riêng, dừng lại để quán chiếu con đường tu học của chính mình.
Nhân ngày vía Đức Phật A Di Đà, Hòa thượng đã có thời pháp thoại, chia sẻ cho đại chúng về cõi Tây Phương Cực Lạc, nơi Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ. Dẫn lời trong Kinh Đại Bảo Tích, Hòa thượng nhắc lại tiền thân của Đức Phật A Di Đà thuở còn là Tỳ-kheo Pháp Tạng. Trước Đức Phật Thế Tự Tại Vương, Ngài đã phát ra 48 đại nguyện, với tâm nguyện rộng lớn là kiến lập một thế giới thanh tịnh, nơi đó chúng sinh được sống trong an vui, hạnh phúc, không còn các duyên khổ não, và thuận lợi tu hành cho đến ngày viên thành Phật quả.
Từ khi phát nguyện cho đến lúc thành Phật, 48 đại nguyện ấy đã trở thành bản hoài độ sinh của Đức Phật A Di Đà, là ánh sáng từ bi và trí tuệ soi chiếu khắp mười phương. Trải qua ba đời mười phương chư Phật, chư Bồ Tát và chư Tổ sư đều nương vào hạnh nguyện của chính mình làm kim chỉ nam tu tập và hóa độ chúng sinh, trong đó pháp môn Tịnh Độ là một con đường khế cơ, khế lý, đặc biệt phù hợp với căn cơ của chúng sinh thời mạt pháp.
Trong suốt 49 năm thuyết pháp, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã để lại cho nhân loại kho tàng Kinh – Luật – Luận vô cùng quý báu. Hòa thượng đã khái lược sơ đồ truyền thừa Phật giáo: từ Ấn Độ, Phật giáo phát triển theo hai hướng lớn – Bắc truyền (Đại thừa) và Nam truyền (Theravāda). Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của truyền thống Đại thừa. Trên nền tảng kinh điển và giới luật, chư Tổ đã hình thành nên mười tông phái lớn như Hoa Nghiêm tông do ngài Hiền Thủ khai sáng; Thiên Thai tông do các ngài Tuệ Văn, Tuệ Tư và Trí Giả Đại sư hoàn thiện dựa trên Kinh Pháp Hoa. Riêng Tịnh Độ tông, nương nơi ba bộ kinh căn bản là Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ và Kinh A Di Đà, được ngài Tuệ Viễn chính thức xiển dương từ thế kỷ thứ III, lấy pháp môn niệm Phật làm tông chỉ.
Từ nền tảng ấy, Hòa thượng nhấn mạnh vai trò quan trọng của Tịnh Độ tông trong đời sống tu học. Kinh A Di Đà được xem là cốt lõi, hiện diện trong thời khóa tụng niệm hàng ngày tại hầu hết các tự viện. Cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà được mô tả là cách thế giới Sa-bà mười muôn ức cõi. Trong 48 đại nguyện, lời nguyện thứ mười tám được xem là then chốt: nếu chúng sinh chí thành xưng niệm danh hiệu Phật mà không được vãng sinh thì Ngài thề không thành Phật.
Hòa thượng đặc biệt làm rõ ý nghĩa của cụm từ “nhất tâm bất loạn”: đó là trạng thái tâm chuyên chú, chí thành, chí kính, không tán loạn. Người tu nếu giữ thân tâm thanh tịnh, xưng niệm danh hiệu Phật với trọn niềm tin thì nhất định cảm được Phật lực tiếp dẫn. . Cảnh giới Cực Lạc là thế giới bình đẳng, an vui, không thiên tai, không khổ não. Hòa thượng giải thích thêm: "Đừng bảo chim hót nơi cực lạc đó là súc sinh, mà đó là do đức Di Đà hóa hiện ra. Ngay cả địa ngục cũng không, người phạm tội cũng không có".
Một điểm đặc biệt được Hòa thượng nhấn mạnh là việc Đức Phật Thích Ca thuyết Kinh A Di Đà cho ngài Xá Lợi Phất – bậc trí tuệ đệ nhất trong hàng Thanh văn. Điều này cho thấy pháp môn Tịnh Độ không phải là pháp môn cạn cợt, mà là pháp môn thậm thâm, chỉ những bậc có đại trí mới có thể thấu đạt trọn vẹn. Khi kinh được tuyên thuyết, mười phương chư Phật đều hiện tướng tán thán và hộ niệm, chứng minh lời Phật dạy là chân thật, bất hư.
Phù hợp với căn cơ và tập quán người Việt, chư Tổ đã lấy Tịnh Độ làm pháp môn chủ đạo, dạy người tu phải đầy đủ ba món tư lương Tín – Nguyện – Hạnh. Hòa thượng dẫn lời Tổ Thảo Đường trong bài Cảnh Sách: pháp môn này người trí hay kẻ ngu đều có thể hành trì; người tu Thiền mà kiêm tu Tịnh Độ thì như hổ mọc thêm vuốt. Niệm một danh hiệu Đức Phật A Di Đà là bao hàm công đức niệm cả ba đời mười phương chư Phật.
Hòa thượng khuyến tấn đại chúng phải tin sâu vào tự tính thanh tịnh của chính mình: “Bỉ ký trượng phu, ngã diệc như thị” – người khác làm được, ta cũng làm được. Tin nơi đại nguyện và sự tiếp dẫn của Đức Phật A Di Đà để xả bỏ năm trược ác thế của cõi Sa-bà.
Thông điệp xuyên suốt bài pháp được Hòa thượng khẳng định: “Sa-bà là nhân, Cực Lạc là quả.” Người tu không đợi đến lúc lâm chung mới cầu Cực Lạc, mà phải xây dựng Tịnh Độ ngay trong hiện tại bằng đời sống giới hạnh thanh tịnh, tâm ý an trú và hạnh nguyện rộng lớn. Khi ngay nơi Sa-bà này mà sống được đời sống tỉnh thức thì từng giây phút hiện tại chính là Tịnh Độ, là nhân sen nở nơi Tây phương.
Kết thúc thời pháp, Hòa thượng nhắc nhở đại chúng quán chiếu sâu sắc về lẽ vô thường, phải phát nguyện kiên cố, ngày đêm tinh tấn, mọi công đức đều hồi hướng vãng sinh Tây Phương Cực Lạc. Khi xả bỏ báo thân, nếu tâm không bệnh khổ, chính niệm hiện tiền, xả bỏ hận thù, luyến ái và chấp trước, hành giả sẽ từng bước thể nhập lý vô ngã, an nhiên tự tại.
Theo chương trình tu học, trong hai ngày tu tập này, đại chúng chuyên tâm trì tụng Kinh A Di Đà và Kinh Bổn Môn, nhiễu Phật trong tiếng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” âm vang chốn thiền môn, thành kính cầu nguyện sự an lạc, yên vui trong cuộc sống và hòa bình cho tất cả chúng sinh.
Diệu Tường - Tiến Lộc



